Huyết tương giàu tiểu cầu

Định nghĩa huyết tương giàu tiểu cầu
Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (PRP – Platelet Rich Plasma) là huyết tương có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với huyết tương trong máu bình thường được tách chiết từ máu của chính bệnh nhân. Bình thường số lượng tiểu cầu trong máu khoảng từ 140.000 đến 400.000 tiểu cầu/ μl máu (trung bình 200.000), trong khi đó số lượng tiều cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần, từ 2- 8 lần, so với mức trung bình. Sở dĩ cần một nồng độ lớn tiểu cầu trong liệu pháp PRP vì khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α chứa bên trong tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein là các cytokine chống viêm và hàng chục các yếu tố tăng trưởng (growth factor) có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương. Các protein trên sẽ gắn vào các thụ thể (receptor) của các tế bào đích tương ứng như tế bào nguồn gốc trung mô, nguyên bào xương, nguyên bào sợi, tế bào biểu mô, tế bào nội mô…Sự gắn kết này sẽ hoạt hóa một loại protein dẫn truyền tín hiệu nội bào để truyền thông tin tới gen đặc hiệu tương ứng, kết quả là tạo nên sự tăng sinh tế bào, hình thành chất căn bản, các sản phẩm dạng xương, sụn, tổng hợp collagen… tham gia vào quá trình sửa chữa, tái tạo tổ chức tổn thương sụn, xương, phần mềm… Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.

Huyết tương giàu tiểu cầu có chứa các hạt tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α chứa bên trong tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein là các cytokine chống viêm và hàng chục các yếu tố tăng trưởng (growth factor) có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương
Một số protein quan trọng:
– Platelet-derived growth factor (PDGF- αα, ββ, αβ): yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầucó tác dụng hóa ứng động đối với đại thực bào- thu hút đại thực bào tới nơi tổn thương; phối hợp PDGF với TGF-β, IGF có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng mạch máu, phân chia TB, hình thành da, chất căn bản xương, tổng hợp collagen.
– Transforming growth-factor-beta (TGF-β: β1, β2): yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta có tác dụng thúc đẩy các TB gốc nguồn gốc trung mô (sụn, xương, cơ, sợi….) và các nguyên bào xương… phân bào; thúc đẩy quá trình khoáng hóa của xương (khi phối hợp với PDGF). Các yếu tố tăng trưởng TGF-β còn phối hợp với IGF-1 và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp [4].
– Vascular endothelial growth factor (VEGF): yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu,thúc đẩy hình thành mạch máu.
– Epidermal growth factor (EGF): yếu tố tăng trưởng biểu bì, thúc đẩy tăng trưởng tế bào và sự biệt hóa, hình thành mạch máu, hình thành collagen.
– PDEGF (platelet-derivedendothelial growth factor): yếu tố tăng trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu.
– PDAF (platelet-derived angiogenesis factor): yếu tố tăng sinh mạch nguồn gốc tiểu cầu.
– ECGF (epithelial cell growth factor): yếu tố tăng trưởng tế bào biểu mô.
– Fibroblast growth factor-2 (FGF-2): yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-2, thúc đẩy tăng trưởng của các TB biệt hóa và hình thành mạch máu.
– Insulin-like growth factor (IGF): yếu tố tăng trưởng giống Insulin, một điều tiết sinh lý học bình thường trong gần như mọi loại tế bào của cơ thể. IGF-1 còn phối hợp với các yếu tố tăng trưởng TGF-β và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp [4].
Các yếu tố khác do tiểu cầu sinh ra như PF 4 (Platelet factor 4): yếu tố 4 tiểu cầu; Osteocalcin; Osteonectin; Fibrinogen, Vitronectin; Fibronectin; TSP-1: thrombospondin-1… và nhiều chất khác; trong đó nhóm các chất Fibrinogen, Fibronectin, Vitronectin và TSP-1 tham gia vào quá trình hình thành cục máu đông.


CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ CỦA PRP
(Theo khuyến cáo của Hiệp hội y học tế bào quốc tế )
• Thoái hóa khớp (Osteoarthritis)
• Thoái hóa đĩa đệm ( Degenerative disc disease )
• Viêm mỏm trên lồi cầu ngoài ( tennis elbow )
• Viêm mõm trên lồi cầu trong ( golfer’s elbow )
• Viêm lồi củ chày (Jumber’s knee)
• Viêm cân gan chân ( Plantar fascitis )
• Viêm gân gót ( Achilles tendonitis )
• Rách chóp xoay ( Rotator cuff tears )
• Rách sụn chêm ( Meniscal tears )
• Chấn thương thể thao ( Sports injuries )
• Đau thắt lưng mãn tính (Chronic low back pain )
• Đau cổ mãn tính (Chronic neck pain )
• Kích thích sự lành vết thương (Stimulate wound healing )
• Ứng dụng trong thẩm mỹ: rụngtóc, căng da…
Chỉ định điều trị trong chấn thương chỉnh hình
• Viêm khớp, thoái hóa khớp.
• Căng cơ cấp, mãn tính.
• Bong gân dây chằng.
• Tình trạng lỏng bao khớp
• Tổn thương sụn, khớp.
• Chấn thương sụn chêm.
• Hoạt dịch mãn tính.

(Theo khuyến cáo của Hiệp hội y học tế bào quốc tế )
1. Chống chỉ định tuyệt đối
• Hội chứng rối loạn chức năng tiểu cầu
• Giảm tiểu cầu nặng
• Huyết động không ổn định
• Nhiễm khuẩn huyết
• Nhiễm khuẩn tại chỗ định tiêm
• Bệnh nhân không đồng ý chấp nhận các nguy cơ
2. Chống chỉ định tương đối
• Tiêm corticoid tại chỗ trong vòng 1 tháng trước đó
• Dùng corticoid đường toàn thân trong vòng 2 tuần trước
• Dùng NSAIDS trong vòng 48 giờ trước khi tiêm
• Nghiện thuốc lá
• Mới bị nhiễm khuẩn hay sốt
• Ung thư, đặc biệt là ung thư máu, ung thư xương
• Hgb< 10g/L
• PLT< 105 G/L